Ở vùng biển xã Hải Đông, ai đi qua bãi đá ngầm vùng lặng sóng cũng biết đến Cá Con Cau Có. Gã cá già lông bụng trắng xám, vây lưng sứt mẻ mấy cái, lúc nào cũng nhíu mày cau có trợn trừng hai mắt vàng, chẳng ai dám lại gần con tàu đắm cũ nát hắn bám trụ làm nhà suốt ba mươi năm qua. Con tàu ấy vốn là tàu chở hàng của ông Tư Lặn đâm vào đá ngầm hồi bão năm 94, từ đó nằm phơi thây giữa bãi cỏ biển, vỏ tàu rỉ sét bao phủ đầy vỏ ốc, hà, cửa sổ vỡ tan, bên trong còn ngổn ngang đồ đạc cũ: cái ấm trà gốm sứt miệng Tư Lặn để quên, chiếc la bàn rỉ sét kim gãy lăm le, xâu phao nhựa màu sặc sỡ ố vàng theo năm tháng. Cá Con Cau Có coi mấy món ấy là bảo vật, ngày nào cũng dùng đuôi quét sạch cát bụi bám trên đó, tối đến còn nằm ôm cái ấm ngủ cho ấm bụng. Mãi đến một buổi sáng trời trong veo, cá heo con bơi ngang réo ầm ĩ bảo có con rồng biển nhỏ từ đâu lạc vào bãi, cứ nhèm nheo mấy thứ đồ vô chủ để mang về hang. Cá Con Cau Có nghe xong lép bép rít lên đầy giận dữ, lặn vù vù về phía tàu thì thấy Pip – con rồng biển chỉ dài bằng cánh tay người lớn, vảy xanh mướt còn mềm nhũn, hai cái sừng nhú lên đầu lông bông, đang ngậm chặt cái ấm trà sứt miệng của hắn, đuôi vẫy tung tăng định chạy. Chưa kịp nạp hơi nước phun ra, Cá Con Cau Có đã phóng tới cắn nhẹ vào đuôi Pip. Thằng nhóc rồng biển giật mình thả cái ấm ra, quay đầu rít lên chí chóe phân bua: “Tao tưởng đây là bãi phế liệu! Mấy thứ đồ cũ rích này ai mà thèm chứ!” Cá Con Cau Có trợn mắt, răng cạ vào nhau kêu lách cách: “Mày nói cái gì? Đây là nhà tao! Mày xông vào ăn cắp đồ dân còn không biết phép tắc à?” Hai bên cứ thế cãi nhau um sùm, Pip vỗ cánh nhỏ làm rơi lăn lông lốc xâu phao nhựa, Cá Con Cau Có dùng vây quật đổ cái tủ gỗ mục, đồ đạc rơi lộp độp xuống cát. Có lẽ vì hăng quá, cả hai lỡ tay đạp hỏng mấy cái xà ngang chống đỡ vỏ tàu, con tàu vốn đã mục nát lại càng rệu rã, nứt toác một cái lỗ lớn ở mạn trái, nước tràn vào ngập hết chỗ ngủ của Cá Con Cau Có, mấy cái la bàn, phao cũng trôi tuốt ra ngoài. Đến khi cả hai mệt lả, ngồi thở phì phò trên mỏm đá thì mới thấy: chỗ ở của cả hai đều tan tành rồi. Tàu của Cá Con Cau Có nát bươm không thể ở được nữa, còn hang cát Pip chọn làm nhà giờ cũng bị đống đổ nát từ tàu đè lên, bụi mù mịt chẳng còn chỗ đứng. Đang lúc hai gã ngồi ủ rũ, chú cá mập già sống gần đó bơi qua, thả một câu chuyện: “Ở phía tây bãi đá, chỗ dòng hải lưu ấm chảy qua, có cái hang đá gọi là hang Ánh Sáng. Nghe đồn bên trong có thứ ánh sáng lấp lánh huyền thoại, chạm vào là được ban một điều ước, bất kể là cá, rồng hay người. Tao thấy con khoai vực ước cho cái vây sứt lành lại, đúng thật một tuần sau nó mọc lại nguyên vẹn.” Cả Cá Con Cau Có và Pip đều sáng mắt lên, nhưng chú cá mập nhấn thêm: “Mấy hôm này con tàu của lão Đen – gã ngư dân tham lam hay dòm ngó vùng này – cứ lảng vảng quanh bãi đá, rõ ràng cũng đang săn lùng thứ ánh sáng đó. Hắn muốn ước cho đàn tàu của mình đánh bắt thoải mái, chẳng cần sợ gì luật lệ, chắc chắn sẽ dùng mọi thủ đoạn để lấy được ánh sáng trước các cậu.” Thế là hai gã vốn còn đang cau có lườm nguýt nhau hôm trước, giờ lại ngồi lại bàn chuyện: “Tao sức yếu, bơi xa không nổi, nhưng biết hết đường đi nước bước ở vùng này” – Cá Con Cau Có lên tiếng trước, đuôi vẫn gõ lách cách xuống đá. Pip vẫy đuôi rít khẽ: “Tao có thể bay được đoạn ngắn, nhìn thấy từ trên cao đâu là hang, đâu là tàu của lão Đen. Nhưng tao còn nhỏ, gặp lão Đen là sợ run.” Cuối cùng hai gã quyết định hợp tác, dù vẫn còn cau có với nhau, nhưng ít nhất có chung mục tiêu: tìm được ánh sáng, ước cho nhà mình lành lặn, và đuổi được lão Đen khỏi vùng biển này. Hành trình phía trước đầy rẫy rặng san hô sắc nhọn, dòng nước xoáy, và cái bóng đen của tàu lão Đen lúc nào cũng lơ lửng phía chân trời, nhưng ít nhất giờ Cá Con Cau Có không còn phải ở một mình trên cái xác tàu nát bươm nữa.